BÀI TUYÊN TRUYỀN VỀ BỆNH SÂU RĂNG

Thứ năm - 29/09/2016 13:00
   Đức Châu, ngày 13 tháng 09 năm 2016
  
BÀI TUYÊN TRUYỀN VỀ BỆNH SÂU RĂNG
 
Định nghĩa: Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sự huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ.
1. Căn nguyên và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng.
Bệnh sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng không tốt, tình trạng khấp khểnh của răng, chất lượng men răng kém, môi trường tự nhiên, nhất là nước ăn uống có hàm lượng fluor thấp (hàm lượng fluor tối ưu là 0,8 - 0,9 ppm/l) đã tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Trước năm 1970 người ta coi sâu răng là một thương tổn không thể hồi phục và khi giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococus mutans nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế đường, tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ, nhưng hiệu quả phòng sâu răng hạn chế.
Sau năm 1975 người ta coi sâu răng là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, các nguyên nhân này được chia làm hai nhóm:
- Nhóm chính: Có ba yếu tố phải cùng đồng thời xảy ra.
+ Vi khuẩn thường xuyên có trong miệng, trong đó có Streptococus mutans là thủ phạm chính.
+ Chất bột và đường dính vào răng sau ăn sẽ lên men biến thành acide do tác động của vi khuẩn.
+ Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trường miệng. Ở đây người ta cũng thấy rằng cấu tạo men răng giữ một vai trò trọng yếu trong nguyên nhân sâu răng vì men răng có fluor thì có khả năng phòng chống sâu răng.
- Nhóm yếu tố phụ trợ có rất nhiều như: Vai trò của nước bọt, di truyền, đặc tính vi sinh hóa của răng… Nhóm này tác động làm tăng hay giảm sâu răng và gây ra các vị trí lỗ sâu khác nhau.                                                           
Từ năm 1975, White đã thay thế một vòng tròn (chất đường) của sơ đồ Keys bằng vòng tròn chất nền và nhấn mạnh vai trò nước bọt và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng.

2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh sâu răng.
Sâu răng sớm.
Giai đoạn đầu của bệnh sâu răng là sự hủy khoáng và hòa tan cấu trúc răng do giảm pH khu trú của mảng bám và hủy khoáng men răng. Các tổn thương sớm này giới hạn ở mô men, được đặc trưng bởi một bề mặt men còn nguyên vẹn nhưng lớp dưới bề mặt xốp. Lỗ sâu chỉ được hình thành khi các tổn thương men xốp dưới bề mặt hủy khoáng nhiều tới mức sập lớp men bề mặt.
Sâu răng sớm, bề mặt men vẫn còn nguyên vẹn
Việc phát hiện sớm khi lỗ sâu răng chưa xuất hiện thì phần lớn bệnh sâu răng có thể ngăn chặn bởi chính người bệnh mà không cần điều trị phức tạp, tốn kém.
Sâu răng giai đoạn lỗ sâu.                     
Các lỗ sâu trên bề mặt men là các tổn thương không hồi phục và nếu không được điều trị thì mô ngà sẽ bị phá hủy nhanh, phá vỡ cấu trúc răng.
* Sâu men răng.
Trên lâm sàng, ở giai đoạn này bệnh nhân chưa chú ý tới vì chưa gây ra triệu chứng chủ quan, khi thăm khám bị mắc thám trâm. Tổn thương men màu nâu sẫm là một tổn thương có giới hạn và tiến triển chậm. Ngược lại, nếu tổn thương có màu sáng là một tổn thương tiến triển nhanh hơn.
* Sâu ngà răng:
Trên lâm sàng, dấu hiệu cơ năng của sâu ngà là bệnh nhân cảm thấy buốt khi có kích thích chua, ngọt, lạnh, hết kích thích thì hết đau. Sâu ngà sâu dễ nhạy cảm với các kích thích hơn sâu ngà nông. Đôi khi chúng ta gặp những trường hợp sâu răng ở giai đoạn ổn định, đáy lỗ sâu cứng, lòng chảo xám đen, người bệnh có thể không có dấu hiệu ê buốt khi gặp các kích thích trên.
Khi khám thấy đáy lỗ sâu tổn thương mềm người ta cho rằng đó là sâu răng đang phát triển. Nếu đáy lỗ sâu cứng đó là sâu răng đã ổn định. Sự khác biệt chính giữa sâu ngà nông và sâu ngà sâu là chiều sâu của lỗ sâu. Nếu tổn thương sâu dưới 2mm là sâu ngà nông, còn tổn thương >2-4mm là sâu ngà sâu.
3. Ưu, nhược điểm của các loại vật liệu dùng trong răng trẻ em:

  Ưu điểm Nhược điểm
Amalgam - Nhanh, rẻ.
- Bền.
- Dễ sử dụng.
- Sát khít thành xoang.
- Không gây nhạy cảm.
- Không thẫm mỹ.
- Không liên kết với răng.
- Phải tạo lưu cơ học.
- Nguy hiểm từ thủy ngân.
- Có phản ứng điện phân.
GIC - Tương hợp sinh học
- Dính vào mô răng.
- Giải phóng Fluor.
- Dễ sử dụng.
- Thời gian đông cứng dài.
- Độ cứng thấp, dễ gãy vỡ.
- Dễ xoi mòn.
- Không cản quang.
Compomer - Các ưu điểm của GIC.
- Đàn hồi tốt hơn GIC.
- Yêu cầu nhiều trang thiết bị.
- Hở bờ miếng trám.
- Độ cứng thấp.
- Một số cản quang.
Composite - Thẫm mỹ cao.
- Độ bền chấp nhận được.
- Chủ động thời gian làm việc.
- Yêu cầu nhiều trang thiết bị.
- Gây nhạy cảm.
- Phải cách ly tốt khi hàn.
- Dễ hở bờ miếng trám.
- Không dính vào mô răng.
Chụp thép có sẵn - Rất bền.
- Bảo vệ nâng đỡ tổ chức còn lại của răng.
- Mài răng nhiều.
- Đòi hỏi sự hợp tác của bệnh nhân.
4. Dịch tễ học bệnh sâu răng:
Theo kết quả điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam từ năm 1999- 2001 của Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu và thống kê sức khoẻ răng miệng Australia cho thấy :
 Toàn quốc trẻ 7 tuổi sâu răng sữa chiếm 83,7%. Trẻ 6-8 tuổi sâu răng vĩnh viễn 25,4%. Trẻ 11 tuổi 56,6 % sâu răng vĩnh viễn.
Theo vùng địa lý thấy sâu răng ở miền núi phía Bắc cao hơn vùng đồng bằng, ở miền Bắc thấp hơn miền Nam. Sâu răng cao nhất ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ (trẻ 7 tuổi sâu răng sữa 93%, trẻ 11 tuổi sâu răng vĩnh viễn 71,7%) và thấp nhất vùng đồng bằng sông Hồng (trẻ 7 tuổi sâu răng sữa 73,2%, trẻ 11 tuổi sâu răng vĩnh viễn 47,1%).
Trên đây là một số nội dung cơ bản về bệnh sâu răng, rất mong quý phụ huynh quan tâm để giúp trẻ có được bộ răng đẹp nhất. Xin chân thành cảm ơn./.
                                                                                                                                                                                               Nhân viên y tế
 
 
 
                                                                                                                                                                                                   Lê Thị Hiển

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Các bài viết mới hơn

Các bài viết khác